Bộ môn Giải tích

08/09/2010

QS World University Rankings Results 2010

Filed under: Không toán học, Không định dạng, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 21:11

Overall Rankings – Top 200

Rank 2010
Rank 2009
School Name
Country
Size
Research
Focus
Score 2010
1 2 University of Cambridge United Kingdom L VH FC 100.00
2 1 Harvard University United States L VH FC 99.18
3 3 Yale University United States M VH FC 98.68
4 4 UCL (University College London) United Kingdom L VH FC 98.54
5 9 Massachusetts Institute of Technology (MIT) United States M VH CO 98.19
6 5= University of Oxford United Kingdom L VH FC 98.16
7 5= Imperial College London United Kingdom L VH FC 97.78
8 7 University of Chicago United States M VH FC 97.52
9 10 California Institute of Technology (Caltech) United States S VH CO 96.46
10 8 Princeton University United States M VH CO 96.03
11 11 Columbia University United States L VH FC 95.99
12 12 University of Pennsylvania (UPenn) United States L VH FC 95.97
13 16 Stanford University United States L VH FC 93.62
14 14 Duke University United States L VH FC 92.29
15 19 University of Michigan United States XL VH FC 92.20
16 15 Cornell University United States L VH FC 90.44
17 13 Johns Hopkins University United States L VH FC 89.67
18 20= ETH Zurich (Swiss Federal Institute of Technology) Switzerland L VH FO 89.28
19 18 McGill University Canada L VH FC 89.25
20 17 Australian National University (ANU) Australia M VH CO 88.58
21 23 King’s College London (KCL) United Kingdom L VH FC 88.45
22 20= University of Edinburgh United Kingdom L VH FC 88.01
23 24 University of Hong Kong (HKU) Hong Kong L VH FC 87.28
24 22 University of Tokyo, The Japan L VH FC 86.74
25 25 Kyoto University Japan L VH FC 85.89
26 32= Northwestern University United States L VH FC 85.40
27 34 University of Bristol United Kingdom L VH FC 85.22
28 39 University of California, Berkeley (UCB) United States XL VH FC 85.18
29 29 University of Toronto Canada XL VH FC 84.29
30 26 University of Manchester United Kingdom XL VH FC 83.33
31 30 National University of Singapore (NUS) Singapore XL VH FC 82.78

Details: http://www.topuniversities.com/university-rankings/world-university-rankings/2010/results

Advertisements

20/08/2010

Chúc mừng anh Ngô Bảo Châu

Filed under: Toán học, Tra cứu, Trao đổi — Thẻ:, , , — doanchi @ 00:14

Anh Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên nhận Fields Medal tại ICM 2010 (19/08/2010). Anh là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam, là tấm gương học tập nghiên cứu cho tuổi trẻ Việt Nam hướng tới.
Chúng em xin chúc mừng anh.
Trang wordpress blog của anh: http://thichhoctoan.wordpress.com

29/10/2009

Mathematics Subject Classification: MSC2010

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 16:53

Mathematical Reviews (MR) and Zentralblatt MATH (Z-MATH) collaborate in maintaining the Mathematics Subject Classification (MSC), which is used by these reviewing services and many others to categorize items in the mathematical sciences literature. The MSC has undergone a general revision, with some additions, changes, and corrections, to create MSC2010, the successor to MSC2000, the scheme for the past 10 years. MR and Z-MATH carefully considered input received from the community in recent years, especially since the announcement of the projected revision in December 2006, and used it in the preparation of their joint MSC revision. As anticipated, there are no changes at the two-digit level but refinements have been made at the three- and five-digit levels. With July 2009 MR and Z-MATH started to use MSC2010 as their classification scheme.

MR and Z-MATH welcome and encourage community adoption of MSC2010. Comments can be submitted through the Web form found at http://msc2010.org/feedback or by email to feedback@msc2010.org. All information about MSC2010 is jointly shared by MR and Z-MATH.

The Editors and their staffs wish to express their gratitude to the numerous members of the community for their assistance in this lengthy revision process.

Bernd Wegner, Editor-in-Chief, Z-MATH

Download MSC2010 (PDF)

More information: http://www.ams.org/mathscinet/msc/msc2010.html

Source: http://www.zentralblatt-math.org/msc/en/

20/09/2009

e*Calendar 4.0: Quyển lịch Bloc bỏ túi dành cho người Việt

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi, Vui chơi — Ngô Quốc Anh @ 14:52

Mùa Xuân sắp đến, đây cũng là lúc mọi người trang hoàng nhà cửa và mua cho mình một quyển lịch Bloc mới. Tuy nhiên, có một quyển lịch Bloc bạn có thể đem về dùng mà không cần phải trả bất cứ chi phí nào, đó là e*Calendar 4.0, một quyển lịch treo trên desktop với giao diện tiếng Việt thân thiện.

Những tính năng hấp dẫn của e*Calendar 4.0:

  • Tra cứu âm dương lịch từ năm 1901 đến 3001 (1100 năm).
  • Tờ lịch ngày (Bloc) thiết kế theo hình dáng của bloc treo tường thông dụng, có đủ tháng, ngày, giờ âm lịch theo can chi. Cửa sổ xem trăng cho biết chính xác mức độ tròn của mặt trăng hiện hành.
  • Cho phép chọn một ngày bất kỳ trong khoảng thời gian 1100 năm bằng vài thao tác chuột hoặc phím bấm.
  • Hiển thị các ngày lễ, tết, kỷ niệm, sinh nhật… Cho phép người sử dụng tự định nghĩa và sửa đổi những ngày đặc biệt.
  • Cài đặt hệ thống lịch hẹn với tính năng tự động báo giờ.
  • Sổ tay ghi chép.
  • Tùy biến ảnh nền của cuốn lịch.
  • Tùy biến các câu thơ, thành ngữ, tục ngữ… theo định dạng HTML để hiển thị trên Bloc…

Download:

Có 2 bản

Bản full (~70 MB): Đầy đủ các tính năng

Bản mini (~10 MB): Không có hình nền, cách ngôn…

→ Sau đó, tải về tính năng cộng thêm nào mình thích:
I. Các bước cài thêm hình nền cho bloc:

1. Download 1 hoặc nhiều bộ hình theo sở thích:

2. Thi hành file vừa download về (Ví dụ “Art.exe”)
3. Nhấp nút BROWSE, chỉ đến thư mục …\imgBloc (mặc định là C:\Program Files\Enter PVH\eCalendar 4.0\imgBloc)
4. Nhấp chuột phải lên biểu tượng “Calendar” trên Taskbar, chọn “Thiết lập cấu hình…”II. Các bước tùy biến dòng chữ (Cách ngôn, ngạn ngữ…) trên bloc:1. Download Text on bloc: RS / UL / FF
2. Xả nén vào thư mục …\HTML (mặc định là C:\Program Files\Enter PVH\eCalendar 4.0\HTML)
3. Dùng các phần mềm chuyên dụng (như FrontPage…) để chỉnh sửa các file *.htm theo ý thích.
—————————————————
(*) Do sơ suất trong đóng gói, khi gọi trợ giúp CT sẽ báo lỗi không tìm thấy file: eCalendar.chm
→ Cách khắc phục:
Sau khi cài đặt xong, vào thư mục trợ giúp (mặc định là: “C:\Program Files\Enter PVH\eCalendar 4.0\Help\“) đổi tên file Calendar.chm thành ECalendar.chm.
Theo Echip và PVH’s Weblog

17/05/2009

Maple 13

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 02:20

22/03/2009

Birds and Frogs, part 4

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 00:51

Weak Chaos

If von Neumann had known about chaos when he spoke in Amsterdam, one of the unsolved problems that he might have talked about was weak chaos. The problem of weak chaos is still unsolved fifty years later. The problem is to understand why chaotic motions often remain bounded and do not cause any violent instability. A good example of weak chaos is the orbital motions of the planets and satellites in the solar system. It was discovered only recently that these motions are chaotic. This was a surprising discovery, upsetting the traditional picture of the solar system as the prime example of orderly stable motion. The mathematician Laplace two hundred years ago thought he had proved that the solar system is stable. It now turns out that Laplace was wrong. Accurate numerical integrations of the orbits show clearly that neighboring orbits diverge exponentially. It seems that chaos is almost universal in the world of classical dynamics.

Chaotic behavior was never suspected in the solar system before accurate long-term integrations were done, because the chaos is weak. Weak chaos means that neighboring trajectories diverge exponentially but never diverge far. The divergence begins with exponential growth but afterwards remains bounded. Because the chaos of the planetary motions is weak, the solar system can survive for four billion years. Although the motions are chaotic, the planets never wander far from their customary places, and the system as a whole does not fly apart. In spite of the prevalence of chaos, the Laplacian view of the solar system as a perfect piece of clockwork is not far from the truth.

We see the same phenomena of weak chaos in the domain of meteorology. Although the weather in New Jersey is painfully chaotic, the chaos has firm limits. Summers and winters are unpredictably mild or severe, but we can reliably predict that the temperature will never rise to 45 degrees Celsius or fall to minus 30, extremes that are often exceeded in India or in Minnesota. There is no conservation law of physics that forbids temperatures from rising as high in New Jersey as in India, or from falling as low in New Jersey as in Minnesota. The weakness of chaos has been essential to the long-term survival of life on this planet. Weak chaos gives us a challenging variety of weather while protecting us from fluctuations so severe as to endanger our existence. Chaos remains mercifully weak for reasons that we do not understand. That is another unsolved problem for young frogs in the audience to take home. I challenge you to understand the reasons why the chaos observed in a great diversity of dynamical systems is generally weak.

The subject of chaos is characterized by an abundance of quantitative data, an unending supply of beautiful pictures, and a shortage of rigorous theorems. Rigorous theorems are the best way to give a subject intellectual depth and precision. Until you can prove rigorous theorems, you do not fully understand the meaning of your concepts. In the field of chaos I know only one rigorous theorem, proved by Tien-Yien Li and Jim Yorke in 1975 and published in a short paper with the title, “Period Three Implies Chaos”, [4]. The Li-Yorke paper is one of the immortal gems in the literature of mathematics. Their theorem concerns nonlinear maps of an interval onto itself. The successive positions of a point when the mapping is repeated can be considered as the orbit of a classical particle. An orbit has period N if the point returns to its original position after N mappings. An orbit is defined to be chaotic, in this context, if it diverges from all periodic orbits. The theorem says that if a single orbit with period three exists, then chaotic orbits also exist. The proof is simple and short. To my mind, this theorem and its proof throw more light than a thousand beautiful pictures on the basic nature of chaos. The theorem explains why chaos is prevalent in the world. It does not explain why chaos is so often weak. That remains a task for the future. I believe that weak chaos will not be understood in a fundamental way until we can prove rigorous theorems about it.

String Theorists

I would like to say a few words about string theory. Few words, because I know very little about string theory. I never took the trouble to learn the subject or to work on it myself. But when I am at home at the Institute for Advanced Study in Princeton, I am surrounded by string theorists, and I sometimes listen to their conversations. Occasionally I understand a little of what they are saying. Three things are clear. First, what they are doing is first-rate mathematics. The leading pure mathematicians, people like Michael Atiyah and Isadore Singer, love it. It has opened up a whole new branch of mathematics, with new ideas and new problems. Most remarkably, it gave the mathematicians new methods to solve old problems that were previously unsolvable. Second, the string theorists think of themselves as physicists rather than mathematicians. They believe that their theory describes something real in the physical world. And third, there is not yet any proof that the theory is relevant to physics. The theory is not yet testable by experiment. The theory remains in a world of its own, detached from the rest of physics. String theorists make strenuous efforts to deduce consequences of the theory that might be testable in the real world, so far without success.

My colleagues Ed Witten and Juan Maldacena and others who created string theory are birds, flying high and seeing grand visions of distant ranges of mountains. The thousands of humbler practitioners of string theory in universities around the world are frogs, exploring fine details of the mathematical structures that birds first saw on the horizon. My anxieties about string theory are sociological rather than scientific. It is a glorious thing to be one of the first thousand string theorists, discovering new connections and pioneering new methods. It is not so glorious to be one of the second thousand or one of the tenth thousand. There are now about ten thousand string theorists scattered around the world. This is a dangerous situation for the tenth thousand and perhaps also for the second thousand. It may happen unpredictably that the fashion changes and string theory becomes unfashionable. Then it could happen that nine thousand string theorists lose their jobs. They have been trained in a narrow specialty, and they may be unemployable in other fields of science.

Why are so many young people attracted to string theory? The attraction is partly intellectual. String theory is daring and mathematically elegant. But the attraction is also sociological. String theory is attractive because it offers jobs. And why are so many jobs offered in string theory? Because string theory is cheap. If you are the chairperson of a physics department in a remote place without much money, you cannot afford to build a modern laboratory to do experimental physics, but you can afford to hire a couple of string theorists. So you offer a couple of jobs in string theory, and you have a modern physics department. The temptations are strong for the chairperson to offer such jobs and for the young people to accept them. This is a hazardous situation for the young people and also for the future of science. I am not saying that we should discourage young people from working in string theory if they find it exciting. I am saying that we should offer them alternatives, so that they are not pushed into string theory by economic necessity.

Finally, I give you my own guess for the future of string theory. My guess is probably wrong. I have no illusion that I can predict the future. I tell you my guess, just to give you something to think about. I consider it unlikely that string theory will turn out to be either totally successful or totally useless. By totally successful I mean that it is a complete theory of physics, explaining all the details of particles and their interactions. By totally useless I mean that it remains a beautiful piece of pure mathematics. My guess is that string theory will end somewhere between complete success and failure. I guess that it will be like the theory of Lie groups, which Sophus Lie created in the nineteenth century as a mathematical framework for classical physics. So long as physics remained classical, Lie groups remained a failure. They were a solution looking for a problem. But then, fifty years later, the quantum revolution transformed physics, and Lie algebras found their proper place. They became the key to understanding the central role of symmetries in the quantum world. I expect that fifty or a hundred years from now another revolution in physics will happen, introducing new concepts of which we now have no inkling, and the new concepts will give string theory a new meaning. After that, string theory will suddenly find its proper place in the universe, making testable statements about the real world. I warn you that this guess about the future is probably wrong. It has the virtue of being falsifiable, which according to Karl Popper is the hallmark of a scientific statement. It may be demolished tomorrow by some discovery coming out of the Large Hadron Collider in Geneva.

Manin Again

To end this talk, I come back to Yuri Manin and his book Mathematics as Metaphor. The book is mainly about mathematics. It may come as a surprise to Western readers that he writes with equal eloquence about other subjects such as the collective unconscious, the origin of human language, the psychology of autism, and the role of the trickster in the mythology of many cultures. To his compatriots in Russia, such many-sided interests and expertise would come as no surprise. Russian intellectuals maintain the proud tradition of the old Russian intelligentsia, with scientists and poets and artists and musicians belonging to a single community. They are still today, as we see them in the plays of Chekhov, a group of idealists bound together by their alienation from a superstitious society and a capricious government. In Russia, mathematicians and composers and filmproducers talk to one another, walk together in the snow on winter nights, sit together over a bottle of wine, and share each others’ thoughts.

Manin is a bird whose vision extends far beyond the territory of mathematics into the wider landscape of human culture. One of his hobbies is the theory of archetypes invented by the Swiss psychologist Carl Jung. An archetype, according to Jung, is a mental image rooted in a collective unconscious that we all share. The intense emotions that archetypes carry with them are relics of lost memories of collective joy and suffering. Manin is saying that we do not need to accept Jung’s theory as true in order to find it illuminating.

More than thirty years ago, the singer Monique Morelli made a recording of songs with words by Pierre MacOrlan. One of the songs is La Ville Morte, the dead city, with a haunting melody tuned to Morelli’s deep contralto, with an accordion singing counterpoint to the voice, and with verbal images of extraordinary intensity. Printed on the page, the words are nothing special:

“En pénétrant dans la ville morte,
Je tenait Margot par le main…
Nous marchions de la nécropole,
Les pieds brisés et sans parole,
Devant ces portes sans cadole,
Devant ces trous indéfinis,
Devant ces portes sans parole
Et ces poubelles pleines de cris”.

“As we entered the dead city, I held Margot by the hand…We walked from the graveyard on our bruised feet, without a word, passing by these doors without locks, these vaguely glimpsed holes, these doors without a word, these garbage cans full of screams.”

I can never listen to that song without a  disproportionate intensity of feeling. I often ask myself why the simple words of the song seem to resonate with some deep level of unconscious memory, as if the souls of the departed are speaking through Morelli’s music. And now unexpectedly in Manin’s book I find an answer to my question. In his chapter, “The Empty City Archetype”, Manin describes how the archetype of the dead city appears again and again in the creations of architecture, literature, art and film, from ancient to modern times, ever since human beings began to congregate in cities, ever since other human beings began to congregate in armies to ravage and destroy them. The character who speaks to us in MacOrlan’s song is an old soldier who has long ago been part of an army of occupation. After he has walked with his wife through the dust and ashes of the dead city, he hears once more:

“Chansons de charme d’un clairon
Qui fleurissait une heure lointaine
Dans un rêve de garnison”.

“The magic calls of a bugle that came to life for an hour in an old soldier’s dream”.

The words of MacOrlan and the voice of Morelli seem to be bringing to life a dream from our collective unconscious, a dream of an old soldier wandering through a dead city. The concept of the collective unconscious may be as mythical as the concept of the dead city. Manin’s chapter describes the subtle light that these two possibly mythical concepts throw upon each other. He describes the collective unconscious as an irrational force that powerfully pulls us toward death and destruction. The archetype of the dead city is a distillation of the agonies of hundreds of real cities that have been destroyed since cities and marauding armies were invented. Our only way of escape from the insanity of the collective unconscious is a collective consciousness of sanity, based upon hope and reason. The great task that faces our contemporary civilization is to create such a collective consciousness.

References

  1. M. J. Bertin et al., Pisot and Salem Numbers, Birkhäuser Verlag, Basel, 1992.
  2. M. L. Cartwright and J. E. Littlewood, On nonlinear differential equations of the second order, I, Jour. London Math. Soc. 20 (1945), 180–189.
  3. Freeman Dyson, Prof. Hermann Weyl, For.Mem.R.S., Nature 177 (1956), 457–458.
  4. Tien-Yien Li and James A. Yorke, Period three implies chaos, Amer. Math. Monthly 82 (1975), 985–992.
  5. Yuri I. Manin, Mathematics as Metaphor: Selected Essays, American Mathematical Society, Providence, Rhode Island, 2007. [The Russian version is: Manin, Yu. I., Matematika kak Metafora, Moskva, Izdatyelstvo MTsNMO, 2008.]
  6. Andrew M. Odlyzko, Primes, quantum chaos and computers, in Number Theory, Proceedings of a Symposium, National Research Council, Washington DC, 1990, pp. 35–46.
  7. Hermann Weyl, Gravitation und elektrizität, Sitz. König. Preuss. Akad. Wiss. 26 (1918), 465–480.
  8. ——— , Elektron und gravitation, Zeits. Phys. 56 (1929), 350–352.
  9. ——— , Selecta, Birkhäuser Verlag, Basel, 1956, p. 192.
  10. Chen Ning Yang, Integral formalism for gauge fields, Phys. Rev. Letters 33 (1974), 445–447.
  11. Chen Ning Yang and Robert L. Mills, Conservation of isotopic spin and isotopic gauge invariance, Phys. Rev. 96 (1954), 191–195.
  12. ——— , Hermann Weyl’s contribution to physics, in Hermann Weyl, 1885–1985, (K. Chandrasekharan, ed.), Springer-Verlag, Berlin, 1986, p. 19.

Adapted from NOTICES OF AMS 2/2009

Birds and Frogs, part 3

Filed under: Không toán học, Toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 00:39

John von Neumann

Another important figure in twentieth century mathematics was John von Neumann. Von Neumann was a frog, applying his prodigious technical skill to solve problems in many branches of mathematics and physics. He began with the foundations of mathematics. He found the first satisfactory set of axioms for set-theory, avoiding the logical paradoxes that Cantor had encountered in his attempts to deal with infinite sets and infinite numbers. Von Neumann’s axioms were used by his bird friend Kurt Gödel a few years later to prove the existence of undecidable propositions in mathematics. Gödel’s theorems gave birds a new vision of mathematics. After Gödel, mathematics was no longer a single structure tied together with a unique concept of truth, but an archipelago of structures with diverse sets of axioms and diverse notions of truth. Gödel showed that mathematics is inexhaustible. No matter which set of axioms is chosen as the foundation, birds can always find questions that those axioms cannot answer.

Von Neumann went on from the foundations of mathematics to the foundations of quantum mechanics. To give quantum mechanics a firm mathematical foundation, he created a magnificent theory of rings of operators. Every observable quantity is represented by a linear operator, and the peculiarities of quantum behavior are faithfully represented by the algebra of operators. Just as Newton invented calculus to describe classical dynamics, von Neumann invented rings of operators to describe quantum dynamics.

Von Neumann made fundamental contributions to several other fields, especially to game theory and to the design of digital computers. For the last ten years of his life, he was deeply involved with computers. He was so strongly interested in computers that he decided not only to study their design but to build one with real hardware and software and use it for doing science. I have vivid memories of the early days of von Neumann’s computer project at the Institute for Advanced Study in Princeton. At that time he had two main scientific interests, hydrogen bombs and meteorology. He used his computer during the night for doing hydrogen bomb calculations and during the day for meteorology. Most of the people hanging around the computer building in daytime were meteorologists. Their leader was Jule Charney. Charney was a real meteorologist, properly humble in dealing with the inscrutable mysteries of the weather, and skeptical of the ability of the computer to solve the mysteries. John von Neumann was less humble and less skeptical. I heard von Neumann give a lecture about the aims of his project. He spoke, as he always did, with great confidence. He said, “The computer will enable us to divide the atmosphere at any moment into stable regions and unstable regions. Stable regions we can predict. Unstable regions we can control.” Von Neumann believed that any unstable region could be pushed by a judiciously applied small perturbation so that it would move in any desired direction. The small perturbation would be applied by a fleet of airplanes carrying smoke generators, to absorb sunlight and raise or lower temperatures at places where the perturbation would be most effective. In particular, we could stop an incipient hurricane by identifying the position of an instability early enough, and then cooling that patch of air before it started to rise and form a vortex. Von Neumann, speaking in 1950, said it would take only ten years to build computers powerful enough to diagnose accurately the stable and unstable regions of the atmosphere. Then, once we had accurate diagnosis, it would take only a short time for us to have control. He expected that practical control of the weather would be a routine operation within the decade of the 1960s.

Von Neumann, of course, was wrong. He was wrong because he did not know about chaos. We now know that when the motion of the atmosphere is locally unstable, it is very often chaotic. The word “chaotic” means that motions that start close together diverge exponentially from each other as time goes on. When the motion is chaotic, it is unpredictable, and a small perturbation does not move it into a stable motion that can be predicted. A small perturbation will usually move it into another chaotic motion that is equally unpredictable. So von Neumann’s strategy for controlling the weather fails. He was, after all, a great mathematician but a mediocre meteorologist.

Edward Lorenz discovered in 1963 that the solutions of the equations of meteorology are often chaotic. That was six years after von Neumann died. Lorenz was a meteorologist and is generally regarded as the discoverer of chaos. He discovered the phenomena of chaos in the meteorological context and gave them their modern names. But in fact I had heard the mathematician Mary Cartwright, who died in 1998 at the age of 97, describe the same phenomena in a lecture in Cambridge in 1943, twenty years before Lorenz discovered them. She called the phenomena by different names, but they were the same phenomena. She discovered them in the solutions of the van der Pol equation which describe the oscillations of a nonlinear amplifier, [2]. The van der Pol equation was important in World War II because nonlinear amplifiers fed power to the transmitters in early radar systems. The transmitters behaved erratically, and the Air Force blamed the manufacturers for making defective amplifiers. Mary Cartwright was asked to look into the problem. She showed that the manufacturers were not to blame. She showed that the van der Pol equation was to blame. The solutions of the van der Pol equation have precisely the chaotic behavior that the Air Force was complaining about. I heard all about chaos from Mary Cartwright seven years before I heard von Neumann talk about weather control, but I was not far-sighted enough to make the connection. It never entered my head that the erratic behavior of the van der Pol equation might have something to do with meteorology. If I had been a bird rather than a frog, I would probably have seen the connection, and I might have saved von Neumann a lot of trouble. If he had known about chaos in 1950, he would probably have thought about it deeply, and he would have had something important to say about it in 1954.

Von Neumann got into trouble at the end of his life because he was really a frog but everyone expected him to fly like a bird. In 1954 there was an International Congress of Mathematicians in Amsterdam. These congresses happen only once in four years and it is a great honor to be invited to speak at the opening session. The organizers of the Amsterdam congress invited von Neumann to give the keynote speech, expecting him to repeat the act that Hilbert had performed in Paris in 1900. Just as Hilbert had provided a list of unsolved problems to guide the development of mathematics for the first half of the twentieth century, von Neumann was invited to do the same for the second half of the century. The title of von Neumann’s talk was announced in the program of the congress. It was “Unsolved Problems in Mathematics: Address by Invitation of the Organizing Committee”. After the congress was over, the complete proceedings were published, with the texts of all the lectures except this one. In the proceedings there is a blank page with von Neumann’s name and the title of his talk. Underneath, it says, “No manuscript of this lecture was available.”

What happened? I know what happened, because I was there in the audience, at 3:00 p.m. on Thursday, September 2, 1954, in the Concertgebouw concert hall. The hall was packed with mathematicians, all expecting to hear a brilliant lecture worthy of such a historic occasion. The lecture was a huge disappointment. Von Neumann had probably agreed several years earlier to give a lecture about unsolved problems and had then forgotten about it. Being busy with many other things, he had neglected to prepare the lecture. Then, at the last moment, when he remembered that he had to travel to Amsterdam and say something about mathematics, he pulled an old lecture from the 1930s out of a drawer and dusted it off. The lecture was about rings of operators, a subject that was new and fashionable in the 1930s. Nothing about unsolved problems. Nothing about the future. Nothing about computers, the subject that we knew was dearest to von Neumann’s heart. He might at least have had something new and exciting to say about computers. The audience in the concert hall became restless. Somebody said in a voice loud enough to be heard all over the hall, “Aufgewärmte Suppe”, which is German for “warmed-up soup”. In 1954 the great majority of mathematicians knew enough German to understand the joke. Von Neumann, deeply embarrassed, brought his lecture to a quick end and left the hall without waiting for questions.

Adapted from NOTICES OF AMS 2/2009

28/02/2009

Hội nghị tổng kết hoạt động KHCN ĐHQGHN năm 2008

Filed under: Giải tích toán học, Tra cứu, Trao đổi — bmgt @ 07:00

hoinghitongkethoatdongkhoahoccongnghedhqghn2008

Hội nghị đã diễn ra ngày 27/2/2009 với sự tham dự của GS.TSKH Vũ Minh Giang – Phó giám đốc cùng lãnh đạo văn phòng, các ban chức năng, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc, lãnh đạo các khoa, các trung tâm, các giáo sư, đại diện các nhà khoa học trong ĐHQGHN.

GS.TS Nguyễn Cao Huần – Trưởng ban Khoa học – Công nghệ ĐHQGHN đã trình bày báo cáo tổng kết hoạt động khoa học – công nghệ năm 2008 và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của hoạt động khoa học – công nghệ năm 2009.

Năm 2008, hoạt động khoa học – công nghệ của ĐHQGHN đã tập trung triển khai theo 3 mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm là: Tiếp tục phấn đấu để ĐHQGHN có nhiều công trình, sản phẩm KHCN tầm cỡ quốc gia, quốc tế; thông qua hoạt động NCKH nhanh chóng đào tạo, xây dựng, bổ sung đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành, đầu đàn; xây dựng và phát triển các công nghệ cao ở ĐHQGHN.

Các giải pháp quan trọng đã được triển khai rộng rãi là đầu tư xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, gắn với việc tập trung tham gia giải quyết các nhiệm vụ khoa học công nghệ lớn, quan trọng, nằm trong chiến lược phát triển khoa học – công nghệ của quốc gia, trên cơ sở thế mạnh và định hướng ưu tiên phát triển của ĐHQGHN.

Đề án xây dựng 16 chuyên ngành đào tạo đại học, 23 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, 23 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ (16 – 23) đạt trình độ chuẩn khu vực và quốc tế đã được triển khai thí điểm tại một số đơn vị đào tạo.

Bên cạnh việc tiếp tục hoàn thành thực hiện các dự án đầu tư chiều sâu của Trường ĐHKHTN và Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN đã ưu tiên đầu tư chiều sâu cho Viện Vi sinh vật – Công nghệ sinh học, Trung tâm Thông tin thư viện và Khoa Sư phạm. Vấn đề phát triển, khai thác mạnh mẽ các quan hệ quốc tế để ưu tiên cho phát triển công nghệ cao và đào tạo cán bộ, chú trọng hợp tác với thành phố Hà Nội, ĐHQG TP.HCM và tỉnh Hòa Bình cũng đã được lãnh đạo ĐHQGHN quan tâm đúng mức. Năm vừa qua, ĐHQGHN đã triển khai thực hiện được 30 đề tài cấp nhà nước thuộc các chương trình KC, KX… trong đó có 17 đề tài cấp nhà nước thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Bên cạnh đó, ĐHQGHN cũng đã hoàn thiện Đề án và Điều lệ hoạt động của Quỹ phát triển khoa học công nghệ, hoàn thành Kế hoạch chiến lược phát triển công nghệ thông tin của ĐHQGHN đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020.

Năm 2009, trên cơ sở “Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2010” của Chính phủ, Nghị quyết của BCH Đảng bộ ĐHQGHN khóa III, hoạt động khoa học – công nghệ của ĐHQGHN sẽ đi theo phương hướng: Phát huy mọi nguồn lực, tạo bước đột phá về chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, tiếp tục phát triển ĐHQGHN theo định hướng đại học nghiên cứu tiên tiến đa ngành, đa lĩnh vực, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, khẳng định thế mạnh hàng đầu cả nước về khoa học cơ bản, tập trung có trọng tâm, trọng điểm cho nghiên cứu khoa học đỉnh cao để tạo ra sản phẩm khoa học có tầm cỡ quốc tế, có phát minh sáng chế quan trọng phục vụ phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, góp phần giải quyết các nhiệm vụ khoa học – công nghệ quan trọng của quốc gia.

Một số chỉ tiêu phấn đấu trong giai đoạn 2009-2010 là: 100% các dự án đấu thầu và nhiệm vụ khoa học cấp nhà nước được triển khai đúng tiến độ; 100% đề tài, đề án cấp bộ/ ngành nghiệm thu đúng thời hạn; Thu hút vốn từ bên ngoài gấp 2 lần kinh phí được đầu tư từ ngân sách; Có trên 100 bài báo được in trong các tạp chí quốc tế; Có hơn 10 giải thưởng khoa học công nghệ từ cấp ĐHQGHN trở lên…

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, GS.TSKH Vũ Minh Giang đã đánh giá cao những đổi mới, những kết quả toàn diện, sâu sắc và đột phá của hoạt động khoa học – công nghệ trong năm qua, biểu dương sự nỗ lực của các đơn vị và các nhà khoa học. Phó giám đốc cũng nhấn mạnh cần đặc biệt chú trọng tới chất lượng, hiệu quả của các hoạt động khoa học – công nghệ của ĐHQGHN, chú trọng tới tính liên thông, liên kết, liên ngành – thế mạnh của đại học đa ngành, đa lĩnh vực. Nhân dịp này, GS.TSKH Vũ Minh Giang đã thay mặt Giám đốc ĐHQGHN trao Giải thưởng công trình khoa học tiêu biểuGiải thưởng nhà khoa học trẻ năm 2008 cho các tác giả của các công trình/ cụm công trình.

Danh sách các công trình/ cụm công trình khoa học tiêu biểu năm 2008 của ĐHQGHN

1/ “Nghiên cứu sự tồn tại nghiệm yếu của các bài toán biên không đều đối với phương trình và hệ phương trình Elliptic không tuyến tính”; các tác giả: PGS.TS Hoàng Quốc Toàn, ThS. Ngô Quốc Anh; Trường ĐHKHTN

2/ “Hệ nano dây spin Ca2CuO3”; tập thể tác giả: PGS.TS Hoàng Nam Nhật, GS.TSKH Nguyễn Châu, TS. Huỳnh Đăng Chính, CN. Nguyễn Thùy Trang; Trường ĐHKHTN

3/ “Giải pháp tổng quát để phân tích và thiết kế các anten mạch dải siêu cao tần tích hợp trên bề mặt bán cầu nhiều lớp và ứng dụng”; tác giả: TS. Trương Vũ Bằng Giang; Trường ĐH Công nghệ

4/ “Nghiên cứu quy trình chiết tách Ent-Kauran Ditecpenoit có tác dụng chống ung thư và chống viêm từ cây khổ sâm bắc bộ”; tập thể tác giả đề tài độc lập cấp nhà nước, mã số ĐTĐL-2005/05 do GS.TSKH Phan Tống Sơn chủ nhiệm; Trường ĐHKHTN

5/ “Việt Nam 1919 – 1930: Thời kỳ tìm tòi và định hướng”; tác giả: GS.TS Nguyễn Văn Khánh; Trường ĐHKHXH&NV

6/ “Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa”; tác giả: PGS.TS Trần Nho Thìn; Trường ĐHKHXH&NV

7/ “Văn học Việt Nam thế kỷ X – XIX (những vấn đề lý luận và lịch sử)”; tập thể tác giả do PGS.TS Trần Ngọc Vương chủ biên; Trường ĐHKHXH&NV

Danh sách các công trình/ cụm công trình được tặng Giải thưởng nhà khoa học trẻ năm 2008 của ĐHQGHN

1/ “Nghiên cứu và xây dựng các phương thức hiện đại cho tương tác người máy”; tác giả: TS. Bùi Thế Duy; Trường ĐH Công nghệ

2/ “Chế tạo và nghiên cứu một số vật liệu nano và bước đầu thử nghiệm khả năng ứng dụng hạt nano từ tính trong sinh học”; tác giả: TS. Nguyễn Hoàng Hải; Trường ĐHKHTN

3/ “Cảm biến gia tốc ba bậc tự do kiểu áp trở”; tác giả: ThS. Trần Đức Tân; Trường ĐH Công nghệ

Văn Trương Minh [Trang Tin tức Sự kiện]
Nguồn:VNU

04/01/2009

Quy định mới về việc phong PGS và GS

Filed under: Giải tích toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 14:56

Sáng ngay ngủ dậy, vào dantri.com đọc được cái tin này thấy hay hay. Tổng kết lại cho mọi người cùng tham khảo.

Giáo sư, Phó Giáo sư phải sử dụng thành thạo một ngoại ngữ phục vụ cho công tác chuyên môn và phải giao tiếp được bằng tiếng Anh. Đó là một nội dung quan trọng trong Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg mà Thủ tướng Chính phủ vừa ký ngày 31/12/2008, nêu quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư. Theo quyết định, người được công nhận chức danh GS, PGS phải có

  1. bằng tiến sĩ từ đủ 36 tháng trở lên kể từ ngày có quyết định cấp bằng;

  2. có đủ số công trình khoa học quy đổi theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT, trong đó có ít nhất 50% số công trình khoa học quy đổi từ các bài báo khoa học và 25% số công trình khoa học quy đổi được thực hiện trong 3 năm cuối tính đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ;

  3. có báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ dưới dạng một công trình khoa học tổng quan.

Với chức danh GS, các ứng viên

  1. phải được bổ nhiệm chức danh PGS từ đủ 3 năm trở lên;

  2. hướng dẫn chính ít nhất 2 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (trước 1/1/2011, chỉ yêu cầu hướng dẫn chính 1 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và đang hướng dẫn 1 nghiên cứu sinh khác);

  3. biên soạn sách sử dụng trong đào tạo từ trình độ đại học trở lên (sách phải được xuất bản, nộp lưu chuyển trước thời điểm hết hạn nộp hồ sơ) và

  4. chủ trì ít nhất 1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ hoặc đề tài cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.

Với chức danh PGS, các ứng viên

  1. phải có ít nhất 6 năm thâm niên làm nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy từ trình độ đại học trở lên, trong đó 3 năm thâm niên cuối tính đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ đang làm nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy trình độ đại học hoặc cao hơn;

  2. hướng dẫn chính ít nhất 2 học viên cao học đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ hoặc hướng dẫn 1 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (trước 1/1/2011, chỉ yêu cầu hướng dẫn chính ít nhất 1 học viên cao học bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ hoặc 1 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ);

  3. ứng viên PGS phải chủ trì ít nhất 2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở hoặc 1 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ hoặc đề tài cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.

Tham khảo thêm ở:

http://dantri.com.vn/c25/s25-301288/gs-pgs-phai-su-dung-thanh-thao-mot-ngoai-ngu.htm

http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2009/01/822013/

03/01/2009

THES – QS World University Rankings 2008

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi, Vui chơi — Ngô Quốc Anh @ 00:29

Khởi động năm 2009 bài entry về bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới do THES thống kê.

The Times Higher Education – QS World University Rankings identified these to be the world’s top 100 universities in 2008. These institutions represent 20 countries with Israel represented for the first time. Whilst North America dominates with 42 universities, Europe and Asia Pacific are well represented with 36 and 22 respectively.

2008 2007 School Name Country

Source: QS Quacquarelli Symonds (www.topuniversities.com)
Copyright © 2004-2008 QS Quacquarelli Symonds Ltd.
Click here for copyright and limitations on use.

1 1 HARVARD University United States
2 2= YALE University United States
3 2= University of CAMBRIDGE United Kingdom
4 2= University of OXFORD United Kingdom
5 7= CALIFORNIA Institute of Technology (Calt… United States
6 5 IMPERIAL College London United Kingdom
7 9 UCL (University College London) United Kingdom
8 7= University of CHICAGO United States
9 10 MASSACHUSETTS Institute of Technology (M… United States
10 11 COLUMBIA University United States
11 14 University of PENNSYLVANIA United States
12 6 PRINCETON University United States
13= 13 DUKE University United States
13= 15 JOHNS HOPKINS University United States
15 20= CORNELL University United States
16 16 AUSTRALIAN National University Australia
17 19 STANFORD University United States
18 38= University of MICHIGAN United States
19 17 University of TOKYO Japan
20 12 MCGILL University Canada
21 20= CARNEGIE MELLON University United States
22 24 KING’S College London United Kingdom
23 23 University of EDINBURGH United Kingdom
24 42 ETH Zurich (Swiss Federal Institute of T… Switzerland
25 25 KYOTO University Japan
26 18 University of HONG KONG Hong Kong
27 32 BROWN University United States
28 26 École Normale Supérieure, PARIS France
29 30 University of MANCHESTER United Kingdom
30= 33= National University of SINGAPORE(NUS) Singapore
30= 41 University of CALIFORNIA, Los Angeles (U… United States
32 37 University of BRISTOL United Kingdom
33 29 NORTHWESTERN University United States
34= 28 ÉCOLE POLYTECHNIQUE France
34= 33= University of BRITISH COLUMBIA Canada
36 22 University of California, BERKELEY United States
37 31 The University of SYDNEY Australia
38 27 The University of MELBOURNE Australia
39 53= HONG KONG University of Science & Techno… Hong Kong
40 49 NEW YORK University (NYU) United States
41 45 University of TORONTO Canada
42 38= The CHINESE University of Hong Kong Hong Kong
43 33= University of QUEENSLAND Australia
44 46 OSAKA University Japan
45 44 University of NEW SOUTH WALES Australia
46 47 BOSTON University United States
47 43 MONASH University Australia
48 93= University of COPENHAGEN Denmark
49 53= TRINITY College Dublin Ireland
50= 117= Ecole Polytechnique Fédérale de LAUSANNE… Switzerland
50= 36 PEKING University China
50= 51= SEOUL National University Korea, South

12/12/2008

Gương mặt trẻ tiêu biểu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008

Filed under: Toán học, Tra cứu, Trao đổi, Vui chơi — Ngô Quốc Anh @ 04:30

Nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập ĐHQGHN, ngày 10/12/2008 tại hội trường Lê Văn Thiêm, 19 Lê Thánh Tông đã diễn ra Lễ tuyên Gương mặt trẻ tiêu biểu ĐHQGHN 2008. Đây là hoạt động thường niên được tổ chức hàng năm của ĐHQGHN. GS.TS. Mai Trọng Nhuận – Giám đốc ĐHQGHN và các đồng chí lãnh đạo ĐHQGHN và các đơn vị trực thuộc đã về dự buổi lễ.

Vượt qua hơn 1.300 cá nhân ưu tú đạt danh hiệu “Gương mặt trẻ tiêu biểu” cấp cơ sở, 150 gương mặt trẻ tiêu biểu đại diện cho gần 50.000 học sinh, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và hàng trăm cán bộ trẻ của ĐHQGHN đã vinh dự nhận danh hiệu này. Trong số đó có 23 học sinh khối phổ thông chuyên, 91 sinh viên và 36 cán bộ trẻ. Đặc biệt có 5 cá nhân được nhận danh hiệu Gương mặt trẻ tiêu biểu cấp ĐHQGHN lần thứ ba trở lên, 20 cá nhân đuợc nhận danh hiệu này lần thứ hai. Bên cạnh đó, Giám đốc ĐHQGHN cũng tặng bằng khen cho 7 gương mặt trẻ tiêu biểu đợt này.

Phát biểu tại buổi lễ, Giám đốc Mai Trọng Nhuận đã ghi nhận và biểu dương những thành quả mà thế hệ trẻ ĐHQGHN đã đạt được trong năm học vừa qua trong học tập, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và rèn luyện đạo đức. Giám đốc chúc mừng những cá nhân đã vinh dự được nhận danh hiệu “Gương mặt trẻ tiêu biểu cấp ĐHQGHN năm 2008” đồng thời bày tỏ niềm tin tưởng những gương mặt trẻ tiêu biểu được vinh danh ngày hôm nay sẽ tiếp tục đóng góp trí tuệ, sức lực để cùng với toàn ĐHQGHN thực hiện thắng lợi Nghị quyết 14 của Chính phủ về đổi mới toàn diện giáo dục đại học Việt Nam; sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng về phát triển hai ĐHQG sớm đạt trình độ quốc tế; sự tin tưởng của Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt về sự phát triển cao hơn (Trình độ cao – Chất lượng cao – Nghiên cứu khoa học đỉnh cao – Đáp ứng cao yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước) và nhanh hơn (nhanh chóng đạt trình độ khu vực, quốc tế) để đưa ĐHQGHN nhanh chóng trở thành trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, ngang tầm các đại học tiên tiến trong khu vực, từng bước tiến tới đạt trình độ quốc tế.

Trong số 150 gương mặt trẻ tiêu biểu có 78 gương mặt là của trường ĐHKHTN, chiếm 52%.

Năm nay chi đoàn cán bộ Khoa Toán – Cơ – Tin học có các đồng chí sau được vinh dự nhận danh hiệu trong lễ tuyên dương này:

  1. TS. Lê Huy Chuẩn – tổ Giải tích.
  2. TS. Đặng Anh Tuấn – tổ Giải tích.
  3. ThS. Ninh Văn Thu – tổ Giải tích.
  4. CN. Đào Phương Bắc – tổ Đại số – Hình học – Tôpô.
  5. ThS. Vũ Tuấn Anh – tổ Văn phòng.

Nhiệt liệt chúc mừng các đồng chí L.H. Chuẩn, Đ.A. Tuấn và N.V. Thu.
Source: http://hus.edu.vn/News/NewsContent.asp?g1=NG01000300010001&g2=524&NewsPerPageG5=5&Status=1

28/11/2008

Mathematica 7

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 18:09

Wolfram Mathematica 7--Compute--Develop--Deploy

Following closely on the dramatic reinvention of Mathematica in 2007, Mathematica 7 continues the momentum of innovation to deliver an array of new capabilities, greatly extending the state of the art in many areas, and bringing a dozen major new application fields into the integrated framework of Mathematica.

Homepage – http://www.wolfram.com/products/mathematica/newin7

http://rapidshare.com/files/172367522/Mathematica_7.0.0_Linux.part1.rar
http://rapidshare.com/files/172366075/Mathematica_7.0.0_Linux.part2.rar
http://rapidshare.com/files/172367582/Mathematica_7.0.0_Linux.part3.rar
http://rapidshare.com/files/172367665/Mathematica_7.0.0_Linux.part4.rar

http://rapidshare.com/files/172173196/Mathematica_7.0.0_Mac_OS_X.part1.rar
http://rapidshare.com/files/172174968/Mathematica_7.0.0_Mac_OS_X.part2.rar
http://rapidshare.com/files/172175051/Mathematica_7.0.0_Mac_OS_X.part3.rar
http://rapidshare.com/files/172175090/Mathematica_7.0.0_Mac_OS_X.part4.rar

http://rapidshare.com/files/172215760/Mathematica_7.0.0_Solaris.part1.rar
http://rapidshare.com/files/172216284/Mathematica_7.0.0_Solaris.part2.rar
http://rapidshare.com/files/172216925/Mathematica_7.0.0_Solaris.part3.rar
http://rapidshare.com/files/172216998/Mathematica_7.0.0_Solaris.part4.rar

http://rapidshare.com/files/172339954/Mathematica_7.0.0_Windows.part1.rar
http://rapidshare.com/files/172340183/Mathematica_7.0.0_Windows.part2.rar
http://rapidshare.com/files/172340233/Mathematica_7.0.0_Windows.part3.rar

http://rapidshare.com/files/171594319/KeyGen_EDGE.rar

http://sitelic.colorado.edu/mathematica/download/win/

17/10/2008

Adobe Creative Suite 4

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 12:56

11/09/2008

Mathworks Matlab R2008a DVD

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 22:08

MATLAB is a high-level technical computing language and interactive environment for algorithm development, data visualization, data analysis, and numeric computation. Using MATLAB, you can solve technical computing problems faster than with traditional programming languages, such as C, C++, and Fortran.

You can use MATLAB in a wide range of applications, including signal and image processing, communications, control design, test and measurement, financial modeling and analysis, and computational biology. Add-on toolboxes (collections of special-purpose MATLAB functions, available separately) extend the MATLAB environment to solve particular classes of problems in these application areas.

MATLAB provides a number of features for documenting and sharing your work. You can integrate your MATLAB code with other languages and applications, and distribute your MATLAB algorithms and applications.

http://rapidshare.com/users/LTDGMP
Pass=www.softwar3z.cpm

19/08/2008

Một trang web down sách mới

Filed under: Toán học, Tra cứu, Trao đổi — Thẻ:, — doanchi @ 04:26

Dạo này gigapedia không cho đăng ký nick mới, nên cũng khó cho anh em nào muốn down sách mà lại không có nick. Mò mẫm trên mạng, tớ tìm thấy trang http://ebookee.com, cũng tương tự như giga, nhưng không bắt phải đăng ký. Anh em vào thử nhé. Tất nhiên, trang này cũng cho đăng ký và có dẫn đường link đến amazon.com, nhưng vẫn có thể down sách free được. Và hiển nhiên có cả các đường link e-mule 🙂 .

Good luck.

17/05/2008

Đã có Maple 12…

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — Ngô Quốc Anh @ 01:44

https://i0.wp.com/img210.imageshack.us/img210/2995/maple12wzlogofn4.jpg

WATERLOO, CANADA, MAY 6, 2008

Maplesoft, the leading provider of high-performance software tools for engineering, science and mathematics, today announced the next release of Maple, the company’s hugely popular tool to solve complex mathematical problems and create rich technical documents. Maple is already an industry standard tool in engineering and scientific circles. Maple 12 introduces an extensive range of new tools built on Maple‘s fundamental technology platform of smart documents, powerful mathematics, and seamless connectivity to the engineering design toolchain.


One of the most significant features of this release is the direct connectivity between Maple 12 and popular CAD systems such as SolidWorks and Autodesk Inventor. CAD users will now be able to deploy powerful mathematical capabilities to dramatically extend the range of analysis on CAD models. Based on major industry trends and extensive consultation with its user base, the product also offers new ways to develop sophisticated mathematical models faster and more accurately than ever before.

A new collection of Dynamic Systems modeling tools essential in dynamic modeling, control design, and signal processing is yet another important addition to the new release. These tools will add convenient frequency domain analysis, state space analysis, and more to Maple already extensive mathematical tool set.

http://rapidshare.com/files/114959237/Maplesoft.Maple.v12.0-TBE.part1.rar
http://rapidshare.com/files/114959595/Maplesoft.Maple.v12.0-TBE.part2.rar
http://rapidshare.com/files/114959823/Maplesoft.Maple.v12.0-TBE.part3.rar

13/03/2008

Seminar Phương trình đạo hàm riêng

Đã ba năm rồi, không, bốn năm kể từ khi seminar bắt đầu đi vào hoạt động: tháng 10/2003 đến nay, hàng tuần đều đặn, cứ sáng thứ Sáu chúng tôi lại tụ họp lại ở seminar. Quả thực, duy trì được một seminar không đơn giản chút nào, vì nó yêu cầu phải có nội dung, phải có người trình bày, và phải có người tham gia. Phần lớn thời gian của những năm đầu, seminar nhằm cung cấp kiến thức về PDEs hiện đại (bài toán biến phân, bài toán elliptic,…), và do thày Hoàng  Quốc Toàn phụ trách. Sau đó, xen kẽ với những bài giảng của thày Toàn là những bài trình bày của ĐATuấn, NTVinh, NTDũng, TTĐạt,… về giải tích và PDEs. Sự nhiệt tình của thày và anh em trong Bộ môn đã  giúp cho seminar đứng vững đến ngày hôm nay.
Một điều đáng kể là từ seminar, chúng tôi đã tập hợp và in được thành hai cuốn tài liệu, thu thập các bài giảng, bài trình bày trong thời gian qua. Và chúng đã được đánh giá cao về chất lượng cũng như tính nghiêm túc. Mong sao sẽ còn nhiều nhiều tập bài giảng như vậy nữa trong tương lai.

Up lên đây hai cuốn seminar, coi như quảng cáo cho seminar luôn:

Seminar PDEs – I

Seminar PDEs – II

Chắc là còn những sai sót, hy vọng một ngày nào đó hai cuốn sách trên sẽ được hoàn thiện và in ấn đẹp để đến với các bạn yêu toán, nghiên cứu toán gần xa. Một tương lai không xa.

12/03/2008

VNU Official Mail = Cân kê

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — doanchi @ 15:39

Đúng là Cân kê, bỏ thì thương, vương thì tội. Hàng ngày, ừ thì không đến nỗi thế thì cũng hàng tuần, tôi có một nhiệm vụ cao cả (đối với chính mình) là vào hòm thư ĐHQG của mình, làm sạch nó bằng cách xoá vài trang quảng cáo các loại (từ biệt dược, thần dược, đến ôi thôi rồi dược), chẳng hiểu có bác nào ở ĐHQG chót dại đi dùng hòm thư của mình để mua mấy thứ thuốc men nhậy cảm, để đến nỗi server của ĐHQG trở thành nơi quảng cáo không công cho đám bán thuốc như ruồi này. Cái này cũng phải kể đến công lao to lớn của bộ lọc spam quá lởm của hòm thư ĐHQG.

Đi ra ngoài giao dịch chính thức, chẳng đâu như trường mình, cán bộ toàn sử dụng hòm thư miễn phí: gmail, yahoo mail, hotmail, prồ hơn một tí thì dùng mấy hòm thư của vnn, netnam. Vậy mà…

23/01/2008

3GB free spaces with WordPress

Filed under: Không toán học, Tra cứu, Trao đổi — doanchi @ 18:34

Những ngày đầu sử dụng WordPress, tôi cứ kêu ca về cái dung lượng bé tí của nó, có mỗi 50MB, upload cái gì lên cũng tiếc. Giờ thì đã có đến 3GB. Muốn làm gì thì làm.

Cảm ơn WordPress lắm lắm.

18/01/2008

Tạo một file .djvu từ các file ảnh

Filed under: Toán học, Tra cứu, Trao đổi — Thẻ:, — doanchi @ 00:07

Ta có thể gặp các file có định dạng djvu ở rất nhiều văn bản toán học trên mạng. Đó là công sức scan của các bạn trên khắp năm châu muốn chia sẻ cái người ta không sẵn lòng chia sẻ, muốn phổ biến kiến thức Toán học đến những miền xa xôi, nơi mà các nhà xuất bản hàng đầu thế giới chẳng bao giờ thèm màng đến. Thế nhưng làm thế nào để có thể chuyển từ các file ảnh được scan từ sách thành một file sách hoàn chỉnh dạng djvu? Có rất nhiều cách, tất nhiên. Tôi chỉ giới thiệu ở đây cách mà tôi đã làm, mọi người cùng cho ý kiến nhé.

(more…)

Older Posts »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.